← Danh mục nghiên cứu

Problems & futures · Track 06

Vấn đề & tương lai

Tập trung vào những nan đề phương pháp, giới hạn bằng chứng, năng lực tính toán và các câu hỏi còn mở cần chương trình nghiên cứu tiếp theo.

Đọc giới thiệu Xem dự án liên quan
Dự án liên quan
17
Nhóm dữ liệu
03
Quốc gia / vùng hiện đại
09
Khu vực tư liệu
05

Câu hỏi dẫn đường

Những vấn đề nào chưa thể kết luận, cần dữ liệu gì và phương pháp tương lai phải vượt qua giới hạn nào?

Phạm vi nội dung

  1. 01

    Câu hỏi chưa giải quyết và kết quả âm

  2. 02

    Kiểm chứng phương pháp và sai số

  3. 03

    Nhu cầu dữ liệu, tính toán và phản biện tiếp theo

Related project index

Dự án liên quan.

Dữ liệu dự án được đọc trực tiếp từ project_data; các bộ lọc không tạo bản sao nội dung.

17 dự án
0185/100
Văn bản và hiện vật bí ẩnda thuộc được định tuổi 1404–1438

Bản thảo Voynich

Voynich là một codex minh họa trên da thuộc, hiện còn 102 folio cùng nhiều lá gấp và dấu vết lá thất lạc. Catalog Yale ghi kích thước khoảng 225 × 160 mm. Bốn mẫu da thuộc được đo C-14 cho khoảng lịch 1404–1438 với xác suất thường công bố 95%; kết quả này định tuổi động vật/vật liệu, không tự động xác định ngày viết. Phân tích McCrone cho thấy các mực đen được lấy mẫu có đặc điểm/hoá học tương tự nhau và phù hợp loại mực iron-gall lịch sử; phép đó không phải định tuổi tuyệt đối của mực.

  • Chưa xác định
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
0265/100
Văn bản và hiện vật bí ẩnkhoảng thế kỷ XVII TCN

Đĩa Phaistos

Đĩa Phaistos là một đĩa đất sét nung, đường kính không đều 15,8–16,5 cm, có dấu đóng theo đường xoắn ốc trên cả hai mặt. Luigi Pernier tìm thấy nó tối 3-7-1908 trong vano 8/Room 8 của House 101 thuộc khu đông-bắc Phaistos, cùng một mảnh bảng Linear A thường mang mã PH 1. Pernier đã lưu ý đĩa không còn nguyên vị trí sử dụng mà có thể rơi từ kết cấu phía trên; do đó “tìm ở Phaistos” không đồng nghĩa chắc chắn “chế tạo tại Phaistos”. Hiện vật hiện ở Phòng V, tủ 51 của Bảo tàng Khảo cổ Heraklion, số kiểm kê Π-Ν1358.

  • Hy Lạp
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
0362/100
Văn bản và hiện vật bí ẩnniên đại chưa chắc chắn; thường đặt trong thời cận đại

Codex Rohonc

Codex Rohonc là thủ bản giấy nhỏ 120 × 100 mm, gồm 224 folio/448 trang, viết dày khoảng 9–14 dòng mỗi trang và có 87 minh họa. Thư viện và Trung tâm Thông tin Viện Hàn lâm Khoa học Hungary (MTA KIK) lưu giữ dưới shelfmark K 114; record chính thức xác nhận nó từ Thư viện Batthyány tại Rohonc vào thư viện Viện Hàn lâm năm 1838.

  • Hungary
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
0462/100
Mật mã chưa pháphát hiện năm 1999

Ghi chép Ricky McCormick

Ngày 30-06-1999, thi thể Ricky C. McCormick, 41 tuổi, được phát hiện gần khu 14000 Highway 94 North, West Alton, Missouri. Major Case Squad (MCS) ghi vụ số 318 là suspicious death, nghi phạm chưa biết và nói “a note” trong túi chưa giải được. FBI về sau mô tả McCormick bị giết, bỏ lại ngoài đồng và có hai tờ ghi chép mã hóa trong túi quần. Hồ sơ giữ nguyên khác biệt một/hai tờ và suspicious death/murder vì nguồn công khai không giải thích sự chuyển loại.

  • Hoa Kỳ
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
0660/100
Mật mã chưa phákhánh thành năm 1990

Kryptos K4

Kryptos là tác phẩm môi trường của Jim Sanborn, được chọn cho trụ sở mới CIA tháng 11-1988 và dựng/khánh thành năm 1990 tại sân trong trụ sở CIA ở Langley, Virginia. GSA ghi vật liệu granite, quartz, copper, earth và plants; CIA mô tả thêm gỗ hóa thạch, lodestone và các phần nước. Màn đồng chữ S có 1.735 chữ cái cắt rỗng, gồm phía ciphertext và một tableau kiểu Vigenère đảo, trong một quần thể hai phần.

  • Hoa Kỳ
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
0760/100
Đối chứngxuất hiện công khai cuối thập niên 1990

Wingmakers Ancient Arrow

Điều được xác minh là website, sản phẩm, công ty và người quản lý web; không phải hẻm núi, phòng ngầm hay hiện vật trong truyện. “James Mahu” vẫn là danh tính bút hiệu/chưa công khai; chưa có chứng cứ dương tính để đồng nhất người này với Mark Hempel. Việc có sản phẩm thương mại không tự chứng minh ý đồ lừa đảo.

  • Hoa Kỳ
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
0859/100
Văn bản và hiện vật bí ẩnkhoảng thiên niên kỷ II TCN

Rìu Arkalochori

Rìu Arkalochori là đầu rìu kép đúc bằng đồng, dài 24,1 cm và rộng 74 mm tại lỗ tra cán, hiện thuộc Bảo tàng Khảo cổ Heraklion với số kiểm kê X2416. Một mặt có 15 dấu nổi, chia ba cột dọc theo phân bố 6–6–3 quanh phần giữa phía trên lỗ cán. Các dấu được quan sát được; nhưng không có bảng song ngữ, không có khóa âm chắc và không có bản dịch được đồng thuận.

  • Hy Lạp
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1057/100
Văn bản và hiện vật bí ẩnmốc nội văn 1045; ngày sao chép chưa chắc chắn

Nova H 176 (thường ghi Nova N 176)

Nova H 176 là codex giấy viết bằng mực, hiện lưu tại Institute of Oriental Manuscripts thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (IOM RAS), Saint Petersburg. Nó không còn là một văn bản “không xác định hệ chữ”: năm 2010 Viacheslav P. Zaytsev đối chiếu các từ như “quốc gia”, “hoàng đế”, quốc hiệu Khitan và dạng dấu trên bia mộ để nhận diện chắc rằng văn bản dùng chữ Khitan lớn, dạng bán thảo/thảo, ghi ngôn ngữ Khitan. Hệ chữ và ngôn ngữ đã nhận diện, nhưng phần lớn dấu thảo, từ vựng và nội dung vẫn chưa đọc được.

  • Kyrgyzstan
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1240/100
Mật mã chưa phácông bố năm 1885

Beale Ciphers số 1 và 3

Nguồn công khai sớm nhất hiện truy được là pamphlet 23 trang The Beale Papers, in tại Lynchburg, Virginia năm 1885, bán giá 50 cent và đăng quyền dưới tên J. B. Ward. Pamphlet kể rằng Thomas J. Beale gửi một hộp sắt cho chủ khách sạn Robert Morriss; ba tờ số lần lượt mô tả vị trí hầm, tài sản và danh sách người liên quan. Chính pamphlet nói số 2 được giải bằng một phiên bản đánh số từ của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ; số 1 và 3 chưa có plaintext/khóa được chấp nhận.

  • Hoa Kỳ
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1340/100
Mật mã chưa phágiai đoạn 1969–1970

Zodiac Z13 và Z32

Z13 là chuỗi 13 ký hiệu đặt sau câu “My name is—” trong thư gửi San Francisco Chronicle, đề ngày/bưu dấu 20-4-1970. Z32 là chuỗi 32 ký hiệu trong thư ngày 26-6-1970, đi cùng bản đồ đường bộ Phillips 66 có tâm dấu ngắm ở Mount Diablo và lời khẳng định bản đồ–mã sẽ chỉ nơi đặt bom. Một thư ngày 26-7-1970 bổ sung rằng mã Mount Diablo liên quan đến “Radians & inches along the radians”.

  • Hoa Kỳ
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1435/100
Mật mã chưa pháthế kỷ XVI

Các bảng chữ trong Book of Soyga

Book of Soyga, còn mang nhan đề Aldaraia sive Soyga vocor, là một chuyên luận ma thuật Latin vô danh, hiện còn trong hai thủ bản thế kỷ XVI: Oxford, Bodleian Library, MS Bodley 908 và London, British Library, Sloane MS 8. Hai bản không “được đào lên” năm 1994; chúng đã được catalog dưới tên Aldaraia. Deborah Harkness nhận dạng chúng là tác phẩm John Dee gọi Soyga.

  • Vương quốc Anh
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1535/100
Mật mã chưa phánăm 1948

Mã Rubaiyat của người đàn ông Somerton

Ngày 1-12-1948, một người đàn ông tử vong được tìm thấy trên bãi biển Somerton, Nam Australia. Trong một túi nhỏ trên quần ông có mẩu giấy in “Taman Shud” theo cách ghi của hồ sơ điều tra. Cuốn Rubaiyat được cho là nguồn của mẩu giấy chỉ được một người dân giao cảnh sát ngày 22-7-1949, sau khi cuộc thẩm vấn tử thi đầu tiên đã hoãn vô thời hạn. Ở mặt sau sách có số điện thoại và một chuỗi chữ chì mờ được chụp tăng tương phản.

  • Australia
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1630/100
Mật mã chưa phácông bố năm 1939

D'Agapeyeff Cipher

D’Agapeyeff Cipher là chuỗi 395 chữ số Alexander d’Agapeyeff đặt ở cuối ấn bản đầu Codes and Ciphers (Oxford University Press, 1939), sau lời mời người đọc thử sức. Catalog xác nhận sách tiếng Anh, 160 trang; bản 1949 được mô tả là “revised and reset”. Thử thách không còn trong các bản sửa sau.

  • Vương quốc Anh
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án
1730/100
Mật mã chưa phánăm 1897

Dorabella Cipher

Dorabella là một ghi chú ba dòng, 87 ký hiệu, được Dora Penny kể là nhận kèm thư ngày 14-07-1897 của Caroline Alice Elgar sau chuyến thăm gia đình Penny ở Wolverhampton. Ghi chú được quy cho Edward Elgar; mặt sau ghi Miss Penny. Dora không đọc được và công bố facsimile trong hồi ký Edward Elgar: Memories of a Variation.

  • Vương quốc Anh
  • 9 mục hồ sơ
Mở hồ sơ dự án